Chia sẻ dược cảm nhận, những điều học hỏi được qua tìm hiểu về mục đích, ý nghĩa và cách thức chọn nghề phù hợp. HĐGD - Tìm hiểu hoạt động 1 chủ đề 1 . Giáo án tuần 1: SHL - Xây dựng nội quy lớp học và biện pháp thực hiện . Giáo án tuần 2: SHDC - Chung tay Tại sao lại có những câu hỏi như vậy xuất hiện; có thể nói do nhu cầu học hỏi và sử dụng English là một ngôn ngữ mang tính quốc tế. Tiếng anh ngày nay rất phổ biến trong tất cả những hoạt động giao lưu học hỏi văn hóa, nghệ thuật; hay trong buôn bán, phối Giới thiệu và dẫn dắt vào vấn đề cần nghị luận: hạnh phúc. 2. Thân bài Vậy nên hãy sống hết mình với những điều mình muốn và bạn sẽ tìm được ý nghĩa của cuộc đời mình. Nghị luận xã hội 200 chữ về hạnh phúc - Bài làm 9. Hãy cùng hát một bài hát về tình cảm của học sinh và mái trường nhé! Đề xuất các nội dung để tìm hiểu về truyền thống trường em dựa vào các gợi ý dưới đây; Lựa chọn một nội dung để tìm hiểu về truyền thống trường em. Về cơ bản, kiểu bài này cũng gồm các bước: Tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý, viết bài và sửa chữa…. HS đọc đề bài SGK. GV nêu các câu hỏi có tính gợi ý để HS dựa và đó thực hiện lần lượt các. bước. Đề 1 "Suy nghĩ về thân phận người phụ nữ trong xã hội. 1. Định nghĩa mẫu phiếu lấy ý kiến giới thiệu nhân sự đề nghị bổ nhiệm lại giữ chức vụ là gì? Mẫu phiếu lấy ý kiến giới thiệu nhân sự đề nghị bổ nhiệm lại giữ chức vụ là mẫu phiếu được lập ra để ghi chép về việc lấy ý kiến giới thiệu nhân sự đề nghị bổ nhiệm lại giữ chức vụ. z4Zxe. Mục lụcSáng kiến kinh nghiệm Kĩ năng tìm hiểu đề, tìm ý cho bài vănA. ĐẶT VẤN mở đầu II -Thực trạng của vấn đề nghiên cứu QUYẾT VẤN ĐỀI. Đề làm văn trong sách giáo khoa Ngữ văn THPT hiện hành giải pháp thực hiện quả thực nghiệm Kho sáng kiến và tài liệu môn văn dành cho giáo viên tham khảo A. ĐẶT VẤN ĐỀ mở đầu Tìm hiểu đề và tìm ý là một yêu cầu có tính bắt buộc trong quy trình làm một bài văn ở trường phổ thôngcó ý nghĩa quan trọng, quyết định phương hướng lựa chọn kiểu văn bản, cùng với việc sử dụng các thao tác tư duy hoặc các phương thức biểu đạt để tạo lập văn bản và nội dung bài văn. Để đánh giá một bài văn hay, căn cứ điều đầu tiên và then chốt nhất là bài văn có đúng yêu cầu của đề bài đặt ra không? Sách giáo khoa Ngữ văn bậc phổ thông hiện hành có nhiều đổi mới ở khâu ra đề và không dễ dàng ở những năm đầu đổi mới đối với cả người dạy và người học. Học sinh lúng túng nhiều nhất là khâu tìm hiểu đề và tìm ý cho bài văn. Làm văn là một công việc đầy sáng tạo và khó nhọc, không chỉ đòi hỏi ở người viết sự am hiểu chữ nghĩa, năng lực tư duy, vốn hiểu biết mà còn thử thách trình độ tạo lập văn bản và cả nhân cách, cá tính của người cầm bút. Tìm hiểu đề và tìm ý là những thao tác, kĩ năng quan trọng làm nên trình độ tạo lập văn bản của người làm văn. Những trình bày của bản thân tôi còn nhằm giúp cho giáo viên và học sinh bổ sung kiến thức về tạo lập văn bản, nâng cao chất lượng làm văn trong sách giáo khoa Ngữ văn mới. Đó cũng là những lí do khiến tôi chọn đề tài “ Kĩ năng tìm hiểu đề, tìm ý cho bài văn” để nghiên cứu, áp dụng vào thực tế giảng dạy ở trường THPT. Hy vọng rằng những kinh nghiệm nhỏ này sẽ có tác dụng hữu ích với đồng nghiệp. II -Thực trạng của vấn đề nghiên cứu Thực trạng tìm hiểu đề và tìm ý cho bài làm văn của học sinh ở trường THPT Tìm hiểu đề và tìm ý là một yêu cầu bắt buộc trước khi đặt bút viết bài văn nhằm giúp bài văn tránh được tình trạng xa đề, lạc đề, nội dung lan man, thiếu ý, thừa ý. Bản thân giáo viên cũng có lúc rất xem nhẹ việc tìm hiểu đề và lập dàn ý trong giờ dạy của mình. Song khi thấy được tầm quan trọng, ý nghĩa của việc tìm hiểu đề và tìm ý có liên quan mật thiết tới hiệu quả tăng, giảm của chất lượng bộ môn Văn. Từ đó, tôi đã tiến hành trao đổi với 12 giáo viên trực tiếp giảng dạy môn Ngữ Văn tại các trường THPT Lam Kinh, THPT Lê Văn Linh, THPT bán công 2 Thọ Xuân và để kiểm nghiệm cho cách làm của mình, tôi đã thực hiện điều tra 143 học sinh thuộc 3 lớp 10B1, 11A5, 12C6 bằng phiếu khảo sát bài làm văn của học sinh, với câu hỏi đặt ra là Em có thói quen đọc đề văn trước khi làm bài? Em có thói quen tìm hiểu đề và lập dàn ý trước khi làm bài văn? Kết quả như sau – Với câu hỏi 1 + 134 học sinh Tỉ lệ 93,7% trả lời có thói quen đọc đề trước khi làm bài + 09 học Tỉ lệ %6,3 sinh trả lời rằng em không quan tâm đọc đề trước khi làm bài văn. – Với câu hỏi 2 + 80 học sinh chiếm 56% học sinh trả lời không bao giờ có thói quen tìm hiểu đề, tìm ý trước khi viết bài văn. + 20 học sinh chiếm 14% học sinh trả lời có thói quen đọc đề, gạch chân các từ quan trọng nhưng chưa chú đến việc tìm ý cho đề bài. + 43 học sinh chiếm 30% học sinh trả lời đó là công việc em thường làm và là điều kiện giúp cho bài văn của em đạt điểm cao. Kết quả cho thấy, trước một đề làm văn, phần đông số học sinh chưa có thói quen tìm hiểu đề và tìm ý. Học sinh chỉ đọc đề một vài lần và viết bài luôn, không tìm ý trước mà vừa viết vừa suy nghĩ để tìm ý, chưa biết cách phân tích đề làm cơ sở cho việc tìm ý. đặc biệt đối với dạng đề mở, đa số các em gặp khó khăn ở khâu xác định các phương thức biểu đạt hoặc thao tác tư duy cần sử dụng để làm bài, lúng túng ở việc tìm ý, bị động trong quá trình viết bài; bài làm văn vừa thiếu ý, lạc ý vừa không đáp ứng đúng đặc trưng kiểu văn bản mà đề bài yêu cầu tạo lập. Như vậy từ thực trạng trên cho thấy rằng việc tìm đề và tìm ý là một yêu cầu bắt buộc trước khi đặt bút viết bài văn, nhằm giúp bài văn tránh được tình trạng xa đề, lạc đề, nội dung lan man rất cần thiết. Cũng từ thực trạng trên để công việc đạt hiệu quả tốt hơn, tôi đã suy nghĩ, tìm hiểu và trao đổi với đồng nghiệp nhằm tìm ra một số biện pháp phù hợp để giải quyết thực trạng. QUYẾT VẤN ĐỀ I. Đề làm văn trong sách giáo khoa Ngữ văn THPT hiện hành Đề làm văn theo quan niệm truyền thống Trên thực tế, đề làm văn có nhiều dạng khác nhau trực tiếp và gián tiếp, nhưng có thể thấy kết cấu chung của một đề làm văn theo quan niệm truyền thống thường có 2 phần Nêu yêu cầu kiểu bài. Giới hạn vấn đề. Phần 1 mang đặc tính thông tin hiệu lệnh chứa đựng yêu cầu và cách thức làm bài như giải thích, chứng minh làm sáng tỏ, phân tích, bình giảng, bình luận; phần 2 nhằm gợi ý định hướng nội dung cho học sinh, giúp các em trả lời câu hỏi viết cái gì, trong phạm vi nào? Ví dụ Đề1 Phân tích hình tượng cây xà nu trong truyện ngắn “ Rừng xà nu” của Nguyễn Trung Thành. Đề 2 “ Việt Bắc” cũng rất tiêu biểu cho giọng thơ tâm tình, ngọt ngào tha thiết của Tố Hữu và nghệ thuật biểu hiện giàu tính dân tộc của thơ ông. Sách giáo viên Văn 12, 1992 Hãy chứng minh điều đó qua đoạn trích hai mươi câu thơ đầu của bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu Đề 166 – trang 480; Tuyển tập 234 đề và bài làm văn; NXB đại học quốc gia HN Đề 3 Trong truyện ngắn “ Mùa lạc”, nhà văn Nguyễn Khải viết “ ở đời này không có con đường cùng, chỉ có những ranh giới , điều cốt yếu là phải có sức mạnh để bước qua những ranh giới ấy” Văn học 12 Bằng việc phân tích nhân vật Đào, anh, chị hãy làm sáng tỏ ý kiến trên. ở đề 2,3 câu dẫn của đề cũng thuộc phần giới hạn vấn đề nhưng có tác dụng định hướng gợi dẫn rõ hơn về nội dung. Quan niệm về đề văn theo sách giáo khoa Ngữ văn THPT hiện hành Đề thi phải khơi dậy những suy nghĩ riêng đồng thời rèn luyện cho học sinh óc phê phán, nhìn vấn đề trên nhiều mặt, tránh ra đề kiểu “suôn sẻ”, dạng “ thoả hiệp một chiều”. Với mục tiêu ấy, sách giáo khoa Ngữ văn THPT hiện hành chủ yếu ra đề theo hướng “ mở” – chỉ nêu ra đề tài hoặc vấn đề cần bàn bạc trong bài văn, không giới hạn cứng nhắc việc vận dụng các phương thức biểu đạt hoặc các thao tác tư duy để viết bài văn, khuyến khích học sinh suy nghĩ nhiều chiều trước một vấn đề. Đề “ mở” khác loại đề “ đóng”, đề “ khép kín”. Sử dụng loại đề này để phân hoá học sinh sẽ phù hợp hơn. Kết cấu đề “ mở ” trong sách giáo khoa khá phong phú. Dạng 1 Phổ biến là dạng đề chỉ nêu ra đề tài hoặc vấn đề để học sinh làm bài, không nêu yêu cầu về kiểu văn bản và cách thức làm bài. Ví dụ VD1Người phụ nữ xưa với tình yêu và hôn nhân qua một số bài ca dao? Ngữ văn 10, tập 1, bộ 1; Ban KHXH – NV. VD2 “ Mọi phẩm chất của đức hạnh là ở trong hành động” Ngữ văn 12, tập 1, SGK thí điểm bộ 2, ban KHTN. VD3 Dòng sông truyền thống trong đoạn trích Những đứa con trong gia đình của nhà văn Nguyễn Thi Ngữ văn 12, tập 2, NXB GD, 2008 , Đề thi học sinh giỏi tỉnh Thanh Hoá năm học 2009 – 2010. VD4 Tiền tài và hạnh phúc. Đề 1, trang 221; Ngữ văn nâng cao 12, tập 2 Dạng 2 Dạng đề có kết cấu hai phần Phần nêu mệnh đề làm bài và phần giới hạn vấn đề, đề tài. Ví dụ VD1 Nhà thơ Tố Hữu viết “ ôi sống đẹp là thế nào hỡi bạn” ? Anh, chị hãy tìm câu trả lời trong cuộc sống và trong văn học Ngữ văn 10, tập 2, bộ 1; Ban KHXH – NV VD2 Cảm nghĩ của anh, chị về hình tượng rừng xà nu trong truyện ngắn cùng tên của Nguyễn Trung Thành Ngữ văn 12, tập 2, bộ 2; Ban KHXH – NV VD3 Hình tượng người phụ nữ gợi cho anh, chị nhiều suy nghĩ nhất trong các tác phẩm Vợ chồng A Phủ Tô Hoài, Vợ nhặt Kim Lân , Một người Hà Nội Nguyễn Khải và Chiếc thuyền ngoài xa Nguyễn Minh Châu; Đề 4 trang 221; Ngữ văn nâng cao 12, tập 2 giải pháp thực hiện Sau đây tôi xin mạnh dạn đ­ưa ra một số đề xuất tìm hiểu đề và tìm ý cho bài làm văn theo sách giáo khoa Ngữ văn THPT hiện hành. Cụ thể là Cách thức tìm hiểu đề làm văn theo sách giáo khoa Ngữ văn THPT hiện hành Đây là vấn đề khó không chỉ đối với học sinh mà ngay cả đối với giáo viên vì nội dung chương trình làm văn ở THPT được kết cấu theo nguyên tắc đồng tâm và nâng cao; đề làm văn trong sách giáo khoa Ngữ văn hiện hành hiện nay chủ yếu ra theo hướng mở để phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh – loại đề này hay ở chỗ hạn chế được lối làm văn sao chép, tái hiện, học sinh phải tự mình suy nghĩ và nêu được ý nghĩ của chính mình. Nhưng sẽ rất khó đối với học sinh có học lực yếu và trung bình. Theo tôi, nên dựa vào những căn cứ sau đây để tìm hiểu đề làm văn theo sách giáo khoa Ngữ văn mới – Dựa vào lời văn trong đề bài để xác định yêu cầu của đề. Đề nêu ra yêu cầu gì cần giải quyết? – Mục đích giao tiếp của các kiểu văn bản tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh, nghị luận, đối chiếu với đề tài được nêu ra trong đề bài để xác định kiểu văn bản và dạng bài cần tạo lập đề yêu cầu kiểu văn bản nào? Thuộc dạng bài làm văn nào? – Dựa vào khối/ lớp học, thời gian học để để xác định sử dụng phương thức biểu đạt biểu đạt hoặc các thao tác làm bài nhằm đảm bảo một số chuẩn kiến thức kĩ năng cần đạt Các phương thức biểu đạt hoặc các thao tác tư duy nào cần được sử dụng để làm bài văn? Sử dụng chúng khi nào? Ví dụ cụ thể Ví dụ 1 Một kinh nghiệm học văn hoặc làm văn Trang 14, Ngữ văn 10, tập 2- NXBGD. Đề làm văn này yêu cầu làm nổi bật kinh nghiệm học văn hoặc làm văn bằng kiểu văn bản thuyết minh, thuộc dạng bài thuyết minh về một kinh nghiệm học tập có sử dụng kết hợp một số biện pháp nghệ thuật và yếu tố tự sự. Thuyết minh là phương thức biểu đạt chính. Các biện pháp như tự thuật, so sánh, nhân hoá và yếu tố tự sự được sử dụng đan xen kết hợp trong quá trình giới thiệu quá trình học văn những thất bại, những tìm tòi, tích luỹ về kinh nghiệm học văn học thuộc lòng văn bản, chuẩn bị bài trước khi đến lớp, chú ý nghe giảng, luyện đề sau giờ học… . Lưu ý đối với loại đề mở có kết cấu hai phần, học sinh cần lưu ý các “ lệnh” trong đề bài. Từ “ phân tích” trong đề bài có ý nghĩa nhấn mạnh phép luận luận chính của bài viết chứ không có ý nghĩa chỉ định một phương pháp lập luận duy nhất hay yêu cầu về kiểu bài phân tích như các đề văn thường gặp trong các đề văn thường gặp trong sách giáo khoa cải cách giáo dục. Bởi trong thực tế không có đề văn nào chỉ sử dụng một thao tác giải thích, chứng minh hay một cách thức lập luận nào đó, hoặc chỉ dùng một phương thức kể… Bất kì bài văn nào cũng là sự tổng hợp các phương thức và các thao tác. Tuy nhiên,, nói như thế không có nghĩa là trước một đề văn, ai thích sử dụng phương thức biểu đạt nào cũng được. Bao giờ cũng có một phương thức biểu đạt chính đóng vai trò chủ đạo, các phương thức biểu đạt khác chỉ là hỗ trợ và phục vụ cho phương thức chính. Ví dụ 2 Phân tích đoạn thơ sau đây trong bài Vội vàng của Xuân Diệu Ta muốn ôm Cả sự sống đang bắt đầu mơn mởn ; Ta muốn riết mây đưa và gió lượn, Ta muốn say cánh bướm với tình yêu, Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều Và non nước, và cây, và cỏ rạng, Cho chếch choáng mùi thơm, cho đã đầy ánh sáng, Cho no nê thanh sắc của thời tươi; – Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi! Đề 1, trang 101,102; Sách giáo khoa Ngữ văn nâng cao 12 – NXB GD Đề văn trên yêu cầu nghị luận về một đoạn thơ, trong đó phép lập luận chủ yếu là phân tích. Các thao tác sử dụng với phân tích là giải thích, chứng minh, so sánh và tổng hợp đánh giá. Nghị luận là phương thức biểu đạt chính của bài văn, bên cạnh đó, học sinh có thể sử dụng kết hợp yếu tố biểu cảm. Từ “ Cảm nghĩ” đến “ cảm nhận” trong đề văn có ý nghĩa lưu ý đến ấn tượng, cảm thụ của người viết – đặc biệt, đối với nghị luận văn học lại càng phải có sự cảm thụ, liên tưởng, đồng cảm và ấn tượng chủ quan của người làm bài được gợi lên từ tác phẩm. Bởi vậy, học sinh cần lưu ý các cụm từ “ Cảm nghĩ”, “ cảm nhận” trong đề bài không đơn giản là phát biểu cảm tưởng, suy nghĩ mà còn là yêu cầu nghị luận trên cơ sở cảm thụ. Ví dụ 3 “ Cảm nghĩ của anh, chị về hình tượng rừng xà nu trong truyện ngắn cùng tên của Nguyễn Trung Thành” Ngữ văn 12, tập 2, bộ 2; Ban KHXH – NV Đề yêu cầu nghị luận về hình tượng rừng xà nu trong truyện ngắn “ Rừng xà nu”, thuộc dạng bài nghị luận về một tác phẩm tự sự. Nghị luận là phương thức biểu đạt chủ yếu kết hợp với yếu tố tự sự, miêu tả, biểu cảm. Các thao tác lập luận kết hợp gồm phân tích, so sánh, bác bỏ và bình luận nhằm làm nổi bật số phận của rừng xà nu trong tầm đại bác của đồn giặc, sức sống bất diệt của cây xà nu và ý nghĩa tượng trưng của rừng xà nu trong truyện. Từ “ suy nghĩ” trong đề văn nhấn mạnh yêu cầu người làm bài phải trình bày những nhận định, phân tích của mình. Khi trình bày cảm nhận, suy nghĩ phải có lí lẽ , lập luận, phải qua phân tích, chứng minh bằng các dẫn chứng cụ thể kết hợp đan xen linh hoạt nhiều phương thức biểu đạt và các thao tác lập luận khác. Ví dụ 4 “ Phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con người cũng quan trọng và cần thiết như ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết” Anh, chị có suy nghĩ như thế nào về ý kiến trên. Đề 2, trang 41 Sách giáo khoa Ngữ văn nâng cao 12 – NXBGD Đề yêu cầu nghị luận về thái độ sống của con người , thuộc dạng bài nghị luận về một sự việc, hiện tượng trong đời sống. Sử dụng nghị luận là phương thức biểu đạt chính kết hợp với các yếu tố tự sự, miêu tả, biểu cảm. Phép lập luận chủ yếu là phân tích, kết hợp các thao tác chứng minh, bình luận. Cách thức tìm ý cho bài làm văn theo sách giáo khoa Ngữ văn THPT hiện hành Để học sinh không bị lạc đề, lạc ý hay bỏ ý trong quá trình tìm ý cho bài văn, theo tôi có thể tiến hành theo các cách sau Cách 1 Dựa vào tính chất của dạng bài mà đề yêu cầu tạo lập để tìm ý cho bài viét trả lời câu hỏi viết cái gì? Cách 2 Căn cứ vào vấn đề được nêu ra trong đề bài để đặt các câu hỏi và trả lời câu hỏi. Đây thực chất là yêu cầu học sinh phải đọc kĩ đề bài, lật đi lật lại vấn đề ở nhiều mặt để tìm ý cho bài làm văn trước khi viết bài. Ví dụ 5 Tìm ý cho đề bài sau Nhà thơ Tố Hữu viết Ôi sống đẹp là thế nào hỡi bạn Anh, chị hãy tìm câu trả lời trong cuộc sống và trong văn học. * GV định hướng cho học sinh nắm được tính chất của dạng bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lí Bàn bạc, làm sáng tỏ một vấn đề thuộc lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, lối sống của con người, chỉ ra chỗ đúng hay chỗ sai của một tư tưởng nào đó nhằm làm thuyết phục người nghe, người đọc. * Gv hướng dẫn học sinh tìm ý cho bài văn nghị luận về tư tưởng sống đẹp – Giới thiệu tư tưởng sống đẹp Trong cuộc sống, con người luôn hướng tới cái Chân, Thiện, Mĩ và họ luôn mong muốn được hoàn thiện bản thân làm cho cuộc đời mình trở nên có ý nghĩa hơn. – Giải thích tư tưởng sống đẹp Là sống có ích, biết hy sinh, có tâm hồn yêu đời, có ý chí nghị lực, có khát vọng hoài bão… – Chứng minh và phân tích các mặt biểu hiện của tư tưởng sống đẹp + Dẫn chứng tiêu biểu trong cuộc sống Những tấm gương ngưqời thực, việc thực. + Dẫn chứng tiêu biểu trong văn học ca dao, truyện cổ tích, thơ trung đại, văn thơ kháng chiến, văn học sau 1975 đến nay. – Nêu nhận xét đáng giá về các biểu hiện sống đẹp đó trong bối cảnh của cuộc sống riêng, chung. – Nêu nhận thức mới và hành động Đời người chỉ sống có một lần phải sống sao cho ra sống ? Phải sống sao cho trước khi nhắm mắt xuôi tay ta không phải xót xa ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí. để trước khi nhắm mắt, xuôi tay ta có thể tự hào rằng tất cả đời ta, tất cả sức lực ta, ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao quý của loài người’. Lời bất hủ của chàng thanh niên Paven Coosoghin trong tiểu thuyết Thép đã tôi là thế đấy’cũng là phương châm sống đẹp của tuổi trẻ chúng ta trong thời đại đất nước hội nhập và phát triển hôm nay. áp dụng cho việc tìm hiểu đề, tìm ý Tiết 120 Ngữ văn 11, chương trình nâng cao Tìm hiểu đề * GV yêu cầu HS so sánh ba đề văn Đề 1 Vẻ đẹp của bài Thơ duyên Xuân Diệu. Đề 2 Nghệ thuật trào phúng của Nguyễn Công Hoan qua truyện ngắn Tinh thần thể dục. Đề 3 Nhà văn Nga Lê-ô-nit Lê-ô-nốp cho rằng “Mỗi tác phẩm phải là một phát minh về hình thức và một khám phám về nội dung”. Anh chị hãy giải thích và chứng minh ý kiến trên. * Gợi ý 1 Giống nhau Đều là nghị luận văn học. 2 Khác nhau Đề 1 Thuộc dạng đề mở, không giới hạn về nội dung và không chỉ rõ các thao tác lập luận cần sử dụng. Đề 2 Thuộc dạng đề có giới hạn về nội dung, nhưng không chỉ rõ các thao tác lập luận cần sử dụng. Đề 3 Thuộc dạng đề có yêu cầu cụ thể về nội dung và chỉ rõ các thao tác lập luận cần sử dụng. Có thể lập bảng tổng hợp như sau Vấn đề trọng tâm Thao tác chính Phạm vi tư liệu Đề 1 Vẻ đẹp của bài Thơ duyên Phân tích, chứng minh Toàn bộ bài Thơ duyên Đề 2 Nghệ thuật trào phúng qua truyện ngắn Tinh thần thể dục Giải thích, phân tích, chứng minh Lấy dẫn chứng trong truyện ngắn Tinh thần thể dục Đề 3 Bản chất sáng tạo của tác phẩm văn chương Giải thích, chứng minh Lấy dẫn chứng từ các tác phẩm văn học tiêu biểu Tìm ý * GV gợi dẫn HS cách tìm ý cho bài văn bằng cách đặt và trả lời các câu hỏi Với đề 1, có thể đặt và trả lời một số câu hỏi sau – Vẻ đẹp của bài Thơ duyên được thể hiện ở những phương diện nào? Trả lời câu hỏi này sẽ tìm được các ý lớn vẻ đẹp về nội dung, vẻ đẹp về nghệ thuật. – Vẻ đẹp nội dung của bài thơ được thể hiện như thế nào? Với câu hỏi này, căn cứ vào nội dung bài thơ có thể tìm được các ý bài thơ là những cảm xúc tinh tế, mãnh liệt về mối giao hoà của thiên nhiên và mối tơ duyên của lòng người. – Vẻ đẹp nghệ thuật của bài thơ được thể hiện như thế nào? Đó là nghệ thuật sử dụng từ ngữ, xây dựng hình ảnh, là cách cấu tứ, cách thể hiện tình cảm, cảm xúc, giọng điệu thơ… – Vẻ đẹp nội dung và nghệ thuật có sự thống nhất, gắn bó như thế nào? Đó là những tình cảm, cảm xúc tinh tế, nồng nhiệt, đắm say được thể hiện qua một giọng thơ trẻ trung, với những hình ảnh ngôn ngữ mới mẻ, đầy gợi cảm. Với đề 2 có thể đặt một số câu hỏi sau – Thế nào là nghệ thuật trào phúng? Nghệ thuật trào phúng thường sử dụng những thủ pháp nào và biểu hiện ở những phương diện nào? – Nghệ thuật trào phúng được thể hiện như thế nào trong truyện ngắn Tinh thần thể dục? – Nghệ thuật trào phúng có ý nghĩa, giá trị như thế nào trong việc thể hiện nội dung tư tưởng của tác phẩm? Với đề 3 có thể đặt một số câu hỏi sau – ý kiến của Lê-ô-nít Lê-ô-nốp đề cập đến vấn đề gì? – Thế nào là “phát minh về hình thức”? Phát minh về hình thức của tác phẩm văn học được thể hiện như thế nào? – “Khám phá về nội dung” là gì và được thể hiện như thế nào? – Sự phát minh về hình thức và khám phá về nội dung của một tác phẩm có mối liên hệ như thế nào? – Có thể chứng minh qua những tác phẩm văn học tiêu biểu nào? Mỗi tác phẩm đó có những sáng tạo gì mới về nội dung và nghệ thuật? quả thực nghiệm Kết quả giờ dạy Qua giờ dạy, học sinh tích cực suy nghĩ chủ động tham gia các hoạt động học tập để khám phá lĩnh hội kiến thức. Đặc biệt các em đã mạnh dạn trình bày và bảo vệ ý kiến của mình. Bước đầu kết quả cho thấy, trước một đề làm văn, phần đông số học sinh có thói quen đọc đề một vài lần mới viết bài, chú ý tìm hiểu đề, tìm ý trước khi viết bài. Đặc biệt đối với dạng đề mở, các em đã xác định được thao tác, phương thức lập luận và nội dung của bài văn . *Cụ thể ở lớp 12C6 Tổng số 49 hs ; + 39/49 học sinh chiếm 79% đã có thói quen đọc kĩ đề từ 2- 5 lần trước khi viết bài văn. +30/49 học sinh, chiếm 61,2% biết vận dụng thao tác tìm hiểu đề, tìm ý cho bài văn. * Cụ thể ở lớp 11A5 có 45 học sinh – Kết quả của việc tìm hiểu đề, tìm ý + 40/45 hs, chiếm 89% đã có thói quen đọc kĩ đề từ 2- 5 lần trước khi viết bài văn. +37/45 hs, chiếm 77% biết vận dụng thao tác tìm hiểu đề, tìm ý cho bài văn. Trong quá trình thực hiện đề tài này tôi đó có ít nhất 4 lần cho học sinh làm bài kiểm tra trong một học kỳ, kết quả của các lần kiểm tra đều nâng lên về mặt chất lượng . – Kết quả chung + Học kỳ I có 3 em đạt giỏi, chiếm tỉ lệ 7%, 23 em loại khá, chiếm tỉ lệ 51% ,18 em loại trung bình, chiếm tỉ lệ 41 %, 01 em loại yếu, chiếm 2% . + Đến học kỳ 2 đó có 5 em đạt loại giỏi, 24 em đạt khá, 16 em đạt loại trung bình , không còn học sinh xếp loại yếu. So sánh kết quả bài kiểm tra Sau khi dạy thực nghiệm đối chứng ở bài học ở hai lớp 11A2, 11A5, tôi đã tiến hành cho cả hai lớp làm bài kiểm tra để đối chứng kết quả, trong 15 phút. Đề1 Intenet – con dao hai lưỡi. * Bài viết cần nêu đư­­ợc những ý chính sau – Giải thích khái niệm Intenét hệ thống thông tin toàn cầu có thể truy cập công cộng gồm các mạng máy tính liên kết với nhau… – “Intenét là con dao hai lư­ỡi” có nghĩa là thế nào? Intenét có những tiện ích to lớn bên cạnh những tác hại khôn l­ường. Vừa là “ túi khôn” vừa là “ thùng rác” của loài ng­ười. – Tiện ích của Intenét Cung cấp thông tin, mở mang hiểu biết, giúp con người giao l­ưu, thư­ giãn… – Mặt trái của Intenét Làm cho văn hoá đọc có nguy cơ bị mai một; là nguyên nhân phá vỡ kết nối giữ các cá nhân trong cộng đồng khi họ say mê trong thế giới ảo; là phư­ơng tiện để kẻ xấu lợi dụng để truyền di những thông tin không có lợi; là nguyên nhân khiến nhiều bạn trẻ bê trễ học hành, vi phạm pháp luật… – Làm thế nào để Intenét phát huy tác dụng tốt nhất trong cuộc sống. + Ng­ười sử dụng Biết sử dụng đúng mục đích, sử dụng một cách thông minh, linh hoạt. +Cơ quan quản lí Có những biện pháp tích cực, quản lí chặt chẽ những thông tin trên mạng, giáo dục phổ cập nâng cao kiến thức… – Rút ra bài học cho bản thân. Đề2 Học sinh sử dụng điện thoại di động trong trường học – lợi và hại. * Bài viết cần nêu đư­­ợc những ý chính sau – Nêu vấn đề nghị luận Hiện tư­ợng sử dụng điện thoại di động trong nhà tr­ường của hs. – Lợi ích cho ĐTDĐ mang lại đối với hs. + Liên lạc cùng bạn bè, trao đổi những vấn đề về học tập. + Bố mẹ quản lí giờ giấc cũng nh­ kiểm soát con em mình đư­ợc dễ dàng hơn. Qua đó có thể hiểu và chia sẻ đ­ược những lo lắng và những suy nghĩ của con cái. + Dùng ĐTDĐ có thể ghi nhớ, đặt giờ giấc. Tác hại của ĐTDĐ gây ra. + Dùng điện thoại để nhắn tin, chơi điện tử, nghe nhạc… làm mất thời gian học hành của hs. + Dùng điện thoại không đúng lúc, đúng chỗ sẽ tạo nên một hình ảnh phản cảm. + Dùng điện thoại di động trong nhà tr­ường vào những mục đích xấu sẽ khiến học sinh đi sai đ­ường, nhận thức vấn đề không đúng dẫn đến việc không xây dựng cho mình lối sống văn hoá… Định hư­ớng giải quyết + Hạn chế việc hs mang ĐTDĐ đến tr­ờng. + Tăng cư­ờng giáo dục tư­ tư­ởng, ý thức để hs hiểu đ­ược ảnh h­ưởng không tốt của việc mang ĐTDĐ đến tr­ường lớp. + Phụ huynh hs cần quản lí chặt chẽ việc con em sử dụng ĐTDĐ. + Bản thân mỗi hs phải hiểu đ­ược những mặt lợi – hại, tốt – xấu của việc mang và sử dụng ĐTDĐ trong trư­ờng để tự điều chỉnh hành vi của mình. – Liên hệ bản thân. Kết quả kiểm tra Lớp Số bài Điểm 0- 4 Điểm 5 – 6 Điểm 7 – 8 Điểm 9 – 10 SL TL SL TL SL TL SL TL 11A2 Đối chứng 50 12 24% 31 62% 7 14% 0 0 11A5 Thực nghiệm 46 4 8,7% 22 47,8% 17 37% 3 6,5% -> Rõ ràng, việc áp dụng thực nghiệm đề tài đã tạo ra kết quả học tập cao hơn cho học sinh. Kết thúc vấn đề Làm văn là một công việc đầy sáng tạo và khó nhọc, không chỉ đòi hỏi ở người viết sự am hiểu chữ nghĩa, năng lực tư duy, vốn hiểu biết mà còn thử thách trình độ tạo lập văn bản và cả nhân cách, cá tính của người cầm bút. Tìm hiểu đề và tìm ý là những thao tác, kĩ năng quan trọng làm nên trình độ tạo lập văn bản của người làm văn. Việc tìm hiểu đề, tìm ý trong bài văn không phải là công việc mới , song việc luyện tập cho học sinh có thói quen tìm hiểu đề và tìm ý như thế nào cho có hiệu quả thì không phải giáo viên nào cũng chú ý làm. Trong thực tế rất nhiều giáo viên chỉ coi việc luyện tập cho học sinh tìm hiểu đề, tìm ý theo hình thức chiếu lệ , cho có, mà chưa khai thác hết vai trò của thao tác này này. Muốn có được điều đó, phụ thuộc rất nhiều vào tâm huyết của người giáo viên . Hiểu biết tri thức, rèn luyện nhân cách cho học sinh, đó cũng là mục đích cao đẹp của mỗi giờ dạy học văn nói chung trong nhà trường phổ thông. Đó cũng là mong muốn bất cứ người thầy, người cô dạy Văn nào. Và đó cũng là mục tiêu cao đẹp của giáo dục “ Đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán đúng nhất; phát triển nhân cách…” và để làm được điều này “hãy tìm ra một phương pháp cho phép giáo viên dạy ít hơn, học sinh học nhiều hơn” Akômexki. Với suy nghĩ đó, tôi đã cố gắng tìm tòi, nghiên cứu đổi mới phương pháp, nhằm nâng cao hiệu quả của các giờ dạy của bộ môn Ngữ văn tạo hứng thú cho học sinh trong học tập. Khiến các em thấy thêm yêu thích những giờ học Văn, không còn thấy tẻ nhạt, chán ngắt và lê thê. Những cách làm ấy tuy nhỏ, nhưng nó đã phần nào trả lại vị trí xứng đáng của môn Ngữ văn trong lòng học sinh ở trường phổ thông hiện nay. Những trình bày của bản thân tôi còn nhằm giúp cho giáo viên và học sinh bổ sung kiến thức về tạo lập văn bản, nâng cao chất lượng làm văn trong sách giáo khoa Ngữ văn mới. => Trên đây là những kinh nghiệm bản thân tôi đã rút ra từ thực tế giảng dạy. Có thể cách làm của tôi trong việc giảng dạy còn nhiều điểm hạn chế, chưa phù hợp với một số nơi, một số đối tượng. Nhưng với mong muốn góp phần nhỏ vào công cuộc đổi mới phương pháp giảng dạy môn Ngữ văn, tôi đã mạnh dạn tiến hành thực nghiệm và trao đổi. Rất mong được sự đóng góp của các đồng nghiệp có kinh nghiệm. Tôi xin chân thành cảm ơn! Tài liệu tham khảo Từ điển Tiếng Việt – Hoàng Phê NXB Đà Nẵng -2005 Tự sự học – một số vấn đề lý luận và lịch sử . NXB Đại học sư phạm Hà Nội ,2004 Ngữ Văn 11, 12 NXB GD Tạp chí THPT số 30 Tạp chí giáo dục số 222 kì 2 – 2008 Tạp chí giáo dục số 176 kì 1-11-2007 Sách giáo viên Ngữ văn 11,12 Ban KHXH. Ngữ văn 12, tập 2, bộ 2; Ban KHXH – NV Ngữ văn 10, tập 1, bộ 1; Ban KHXH – NV Xem thêm Sáng kiến kinh nghiệm môn văn sáng kiến kinh nghiệm môn văn hiểu đề và cách lập dàn ý cho bài văn nghị luậna. Tìm hiểu đề văn nghị luận – Nội dung một đề văn nghị luận Trong phạm vi nhà trường phổ thông, khi làm bài văn chúng ta thường gặp nhiều dạng đề bài khác nhau. Trong một đề văn nghị luận có yêu cầu người viết phải bày tỏ những suy nghĩ, cảm nhận của mình về một vấn đề nào đó của đời sống được trình bày dưới hình thức các khái niệm, luận lí nêu ra để bàn bạc và đòi hỏi người viết phải bày tỏ ỳ kiến của mình. Đề văn nghị luận thường có những yêu cầu cụ thể nhằm định hướng tính chất của một bài văn. vấn đề nêu trong bài văn nghị luận rất khác nhau có thể là ngợi ca, phê phán, khuyên răn… vì thế người viết phải có phương pháp và cách thức tiếp nhận vấn đề và lựa chọn kiểu bài nghị luận phù hợp. Trong một đề văn nghị luận thường tập trung vào các kiểu đề có dạng như sau – Loại đề có tính chất giải thích, ca ngợi. – Loại đề có tính chất khuyên nhủ, phân tích. – Loại đề có tính chất suy nghĩ, bàn luận. – Loại đề có tính chất tranh luận, phản bác, lật ngược vấn đề. Khi làm một bài văn nghị luận, để làm bài đúng hướng người làm bài cần chú ý các vấn đề sau – Đề bài nêu vấn đề cần nghị luận là vấn đề gì? Nêu rõ ý kiến của riêng mình, đây cũng chính là nội dung bài viết. – Xác định rõ dối tượng và phạm vi cần nghị luận? vấn đề đó nông sâu, rộng hẹp đến mức nào, giới hạn của vấn đề nêu ra trong đề bài. – Những khuynh hướng tư tưởng, quan điểm mà đề bài yêu cầu, tính chất của đề bài làm văn là giải thích, chứng minh hay bình luận. Từ đó mới xác định cách thức trình bày bài viết sao cho phù hợp. b. Tìm ý cho bài văn nghị luận Trong bất kì một bài văn nào, người viết cần xác định những nội dung, phương hướng cụ thể, từ đó mới trình bày thành chỉnh thể thống nhất hoàn chỉnh. Đối với bài văn nghị luận, dàn ý của bài được tạo thành từ luận điểm, luận cứ, lập luận trong sự lôgic, trọn vẹn và hợp lí. Thứ tự các bước tiến hành như sau – Xác định luận điểm – Tìm luận cứ – Xây dựng lập luận Thứ tự. các bước trong chỉnh thể bài văn cần thực hiện theo trình tự hợp lí, thống nhất trong giới hạn và phạm vi vấn đề cần bàn luận. Trong bất cứ bài văn nào cũng cần chú ý ba vấn đề sau – Luận điểm là những ý kiến mà người viết đưa ra để bày tỏ quan điểm của mình về vấn đề được bàn bạc, trao đổi. – Luận cứ là những dẫn chứng, những con số, những sự kiện,… nhằm cụ thể hóa làm sáng tỏ cho luận điểm. – Lập luận là cách đưa ra luận cứ nhằm hướng người đọc người nghe dẫn đến một kết luận. Một kết luận được đưa ra thường chứa đựng một quan điểm, một thái độ hoặc một ý định của người nói hoặc người viết. Trong một lập luận, các luận cứ bao giờ cung đứng trước, kết luận đứng sau. Khi trình bày một quan điểm, thái độ hay ý định của người viết hoặc nói, thường được thể hiện bằng những ý kiến mang tính khái quát, phổ biến, điển hình với toàn xã hội và con người. Một số cách lập luận thường gặp – Lập luận theo quan hệ nhân quả. – Lập luận theo quan hệ tổng – phân – hợp. – Lập luận theo suy luận tương đồng. 5. Bố cục 1 văn bản nghị luận thường có ba phần + Mở bài Nêu vấn đề có ý nghĩa đôi với đời sông xã hội. cỏ thể là lí giải, bàn bạc hay tranh luận. + Thân bài Trình bày những nội dung chủ yếu của bài. Trong phần này có thể trình bày thành nhiều đoạn nhỏ, mỗi đoạn diễn đạt một ý lớn. Trong mỗi ý lớn lại có thể có nhiều ý nhỏ. Nhưng quan trọng nhất là các ý trong phần thân bài phải có mối quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một hệ thống hợp lí, khoa học, thống nhất. + Kết bài Nêu kết luận nhằm khẳng định tư tưởng, thái độ, quan điểm của bài. Phần này người viết có thể nêu thái độ, bày tỏ quan điểm của mình về vấn đề cần bàn luận. 6. Bài văn nghị luận thường sử dụng các phương pháp lập luận -Phép lập luận chứng minh -Phép lập luận giải thích – Phép lập luận chứa yếu tố biểu cảm, tự sự, miêu tả. 7. Phép lập luận chứng minh – Chứng minh là làm sáng tỏ một vấn đề nào đó. – Phép lập luận chứng minh thường sử dụng lí lẽ và dẫn chứng nhằm mục đích khẳng định tính chất đúng đắn của một nhận định, luận điểm. Xuất phát từ thực tế đời sống, đê chứng tỏ một điều gì đó là đáng tin, người ta phải dùng các chứng cứ xác thực nhằm thuyết phục người đọc và người nghe. Điều họ cảm nhận được có thể đánh giá mức độ tin cậy từ quan sát và cảm nhận được từ thực tế khách quan. Trong văn bản nghị luận, những lí lẽ mà người viết đưa ra phải được kiểm chứng, thừa nhận, xác thực và được khẳng định là đáng tin cậy. Trong quá trình làm bài, các dẫn chứng đưa ra cần phải được chọn lọc, ngoài ra nó còn mang tính tiêu biểu, điển hình. Để làm bài văn lập luận chứng minh thật tốt, cần chú ý những vấn đề sau – Vấn đề cần chứng minh trong bài là gì? – Trong bài văn chứng minh cần tập trung chứng minh những điểm nào, những vấn đề được mọi người chưa tin thì cần làm sáng tỏ hơn. Những vấn đề đã được đông đảo mọi người biết thì chỉ cần lướt qua, không cần chứng minh thêm nữa. – Trong quá trình sử dụng dẫn chứng và lí lẽ, cần phải gắn kết chặt chẽ với vấn đề đang bàn, dẫn chứng càng có độ tin cậy thì càng có sức thuyết phục cao. Các bước để làm tốt một bài văn lập luận chứng minh – Bước 1 Tìm hiểu đề và tìm ý – Bước 2 Lập dàn bài – Bước 3 Viết bài – Bước 4 Đọc và sửa chữa 8. Phép lập luận giải thích Giải thích trong văn nghị luận là làm cho người đọc hiểu rõ các tư tưởng, đạo lí, phẩm chất, quan hệ,… cần được giải thích nhằm nâng cao nhận thức, trí tuệ, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm cho con người. Người ta thường giải thích bằng các cách nêu định nghĩa, kể ra các biểu hiện, so sánh, đôi chiếu với các hiện tượng khác, chỉ ra các mặt lợi, hại, nguyên nhân, hậu quả, cách đề phòng hoặc noi theo,… của hiện tượng hoặc vấn đề được giải thích. Bài văn giải thích có mạch lạc, lớp lang, ngôn từ trong sáng, dễ hiểu. Không nên dùng những điều không ai hiểu để giải thích những điều người ta chưa hiểu. Muốn làm được bài giải thích tốt, phải học nhiều, đọc nhiều, vận dụng tổng hợp các thao tác giải thích phù hợp. Bố cục bài văn lập luận giải thích gồm – Mở bài Giới thiệu điều cần giải thích và gợi ra phương hướng giải thích. – Thân bài Lần lượt trình bày các nội dung giải thích, cần sử dụng các cách lập luận giải thích phù hợp. – Kết bài Nêu ý nghĩa của điều được giải thích đối với mọi người. BẠN VOTE MK 5 SAO VÀ CTLHN NHA . CHÚC BẠN HỌC TỐT Nhiều bạn học sinh chưa biết cách xác định luận điểm tìm ý cho bài văn nghị luận, dẫn đến việc viết lan man, nhớ đâu viết đấy, bài viết không rõ luận điểm. Bởi vậy dù có viết dài, viết sâu mà luận điểm không rõ ràng thì bài văn cũng không thể đạt điểm cao. Bài học hôm nay Admin sẽ hướng dẫn các em tìm ý cho bài văn nghị luận, khắc phục lỗi viết lan man, xa đề. Mỗi dạng đề văn nghị luận đều có dàn ý riêng, muốn tìm ý cho bài văn nghị luận, trước hết các em cần nắm vững cấu trúc bài văn. Cô tạm chia ra các dạng đề sau + Nghị luận văn học Phân tích, cảm nhận về nhân vật Phân tích tình huống truyện Phân tích , cảm nhận về đoạn thơ Phân tích, cảm nhận về đoạn trích văn xuôi Nghị luận ý kiến bàn về văn học Dạng đề so sánh văn học so sánh hai đoạn thơ, hai đoạn văn, hai nhân vật, hai hình ảnh, chi tiết trong tác phẩm… +Nghị luận xã hội Nghị luận về tư tưởng đạo lí Nghị luận về hiện tượng đời sống Nghị luận về vấn đề đặt ra trong tác phẩm văn học Sau đây Admin sẽ hướng dẫn các em tìm ý Luận điểm, Luận cứ phù hợp, khắc phục lối viết văn lan man, xa đề. Ở phạm vi bài viết này, Admin hướng dẫn các em tìm ý cho bài Nghị luận văn học. Hôm sau cô sẽ viết bài hướng dẫn cách tìm ý cho bài Nghị luận xã hội. Bước 1 Đọc kĩ đề bài Đây là khâu đặc biệt quan trọng, vì nếu các em không đọc kĩ đề, sẽ dẫn đến việc xác định sai kiểu bài, thậm chí không hiểu vấn đề, và rơi vào ” chém gió ” là điều không tránh khỏi. Vậy chúng ta khai thác đề bài như thế nào? Đọc kĩ và gạch chân những từ trọng tâm. Cần trả lời các câu hỏi sau Đây là dạng đề nào Đề đặt ra vấn đề gì cần giải quyết Viết lại rõ ràng luận đề ra giấy. Có 2 dạng đề Đề nổi, các em dễ dàng nhận ra và gạch dưới luận đề trong đề bài. Đề chìm, các em cần nhớ lại bài học về tác phẩm ấy, dựa vào chủ đề của bài đó mà xác định luận đề. Ví dụ Nhiều bạn cứ cầm đề thi lên, nhìn thấy Mị, Vợ chồng A Phủ là cắm đầu cắm cổ viết, viết tràn lan không có luận điểm ,như vậy rất nguy hại . Các em cần gạch chân những từ khoá trọng tâm của đề bài để xác định hướng triển khai cho phù hợp! Những từ khoá này sẽ giúp các em xác định rõ phần thân bài sẽ phải viết những gì. Bước 2 Tìm ý cho bài văn. Tìm ý như thế nào ? Các em dựa vào dàn ý chung của mỗi kiểu bài để tìm ý nhé. Muốn tìm đúng luận điểm, các em cần nắm vững các bước làm bài, đồng thời phải nắm được nội dung, nghệ thuật của tác phẩm. Ví dụ Nghị luận ý kiến bàn về tác phẩm có dàn ý sơ lược như sau Mở bài dẫn dắt ý kiến Thường giới thiệu tác giả, tác phẩm và đi vào ý kiến. Hoặc dựa vào nội dung của ý kiến để dẫn dắt và trích dẫn ý kiến Thân bài + Giải thích, làm rõ vấn đề Giải thích, cắt nghĩa các từ, cụm từ có nghĩa khái quát hoặc hàm ẩn trong ý kiến . Sau khi cắt nghĩa các từ ngữ cần thiết cần phải giải thích, làm rõ nội dung của cả ý kiến. Thường trả lời các câu hỏi Ý kiến trên đề cập đến vấn đề gì? Câu nói ấy có ý nghĩa như thế nào? + Bàn bạc, khẳng định vấn đề. Có thể lập luận theo cách sau – Khẳng định ý kiến đó đúng hay sai? cụ thể? – Lí giải tại sao lại nhận xét như thế? Căn cứ vào đâu để có thể khẳng định được như vậy? – Điều đó được thể hiện cụ thể như thế nào trong tác phẩm, trong văn học và trong cuộc sống?phân tích và lấy dẫn chứng trong tác phẩm văn học. +Mở rộng, nâng cao, đánh giá ý nghĩa của vấn đề đó với cuộc sống, với văn học. • Kết bài + Khẳng định lại tính chất đúng đắn của vấn đề. +Rút ra những bài học cho bản thân từ vấn đề. Từ dàn ý trên, các em có thể hình dung mình cần viết những luận điểm nào cho bài văn. Ví dụ 2 Kiểu bài phân tích,so sánh, cảm nhận về hai nhân vật ta lại có dàn ý khác MỞ BÀI – Dẫn dắt mở bài trực tiếp không cần bước này – Giới thiệu khái quát về tác giả tác phẩm và nhân vật thứ nhất. – Giới thiệu khái quát về tác giả tác phẩm và nhân vật thứ hai. -Giới thiệu vấn đề nghị luận THÂN BÀI 1. Phân tích nhân vật thứ nhất tích nhân vật thứ hai Chú ý bám sát vấn đề nghị luận 3. So sánh nét tương đồng và khác biệt giữa hai nhân vật 4. Lý giải sự khác biệt KẾT BÀI – Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu – Có thể nêu những cảm nghĩ của bản thân. Từ dàn ý trên, các em có thể tìm được luận điểm cho bài văn của mình, tránh sa đà vào phân tích văn xuôi như kể chuyện và phân tích thơ như diễn xuôi. Ví dụ 3 Kiểu bài cảm nhận về đoạn thơ, đoạn trích văn xuôi Mở bài – Giới thiệu tác giả, giới thiệu bài thơ, đoạn thơ, đoạn văn hoàn cảnh sáng tác, vị trí,… – Dẫn bài thơ, đoạn thơ. * Thân bài – Làm rõ nội dung tư tưởng, nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ , đoạn văn – Bình luận về giá trị đoạn thơ, đoạn văn,… * Kết bài Đánh giá vai trò và ý nghĩa đoạn thơ, bài thơ, đoạn trích văn xuôi trong việc thể hiện nội dung tư tưởng và phong cách nghệ thuật của nhà thơ. Còn nhiều kiểu bài NLVH nữa, cô chỉ lấy 3 ví dụ tiêu biểu như trên. Bước 3 Tìm luận cứ Sau khi tìm được các luận điểm cho bài văn, chúng ta tiến hành tìm luận cứ. Khi xây dựng lập luận, điều quan trọng nhất là phải tìm cho được các luận cứ có sức thuyết phục cứ hiểu nôm na là những ý nhỏ, triển khai cho luận điểm. Luận cứ có thể là dẫn chứng, lí lẽ làm sáng tỏ cho luận điểm. Vậy tìm luận cứ như thế nào ? Cô hướng dẫn các em như sau + Trước hết, luận cứ phải phù hợp với yêu cầu khẳng định của luận điểm. Nội dung của luận cứ phải thống nhất với nội dung của luận điểm. Chẳng hạn muốn bình bài thơ hay, cần chọn được bài thơ hay, câu thơ hay. + Thứ hai, luận cứ phải xác thực, tức là nó phải đúng đắn. Khi nêu luận cứ, người viết cần biết chính xác về nguồn gốc, các số liệu, các sự kiện, tiểu sử nhân vật,… Biết không chắc chắn thì chưa vội sử dụng. Tuyệt đối không được bịa đặt luận cứ. Nhiều bạn không thuộc thơ, không nhớ dẫn chứng văn xuôi, dẫn đến tình trạng “Chém gió”, “đoán mò “ + Thứ ba, luận cứ phải tiêu biểu. Nếu nhà thơ có nhiều câu thơ hay thì chọn câu thơ tiêu biểu cho phong cách độc đáo của nhà thơ ấy. Nếu chọn chi tiết về nhân vật thì chọn chi tiết tiêu biểu nhất cho tính cách của nhân vật ấy. Ví dụ phân tích nhân vật T Nú không thể bỏ qua hình ảnh đôi bàn tay bị đốt. +Thứ tư, luận cứ phải vừa đủ, đáp ứng yêu cầu chứng minh toàn diện cho luận điểm Ví dụ trong bài Tây Tiến- Quang Dũng nếu các em muốn chứng minh thiên nhiên miền Tây dữ dội, khắc nghiệt thì cần lấy những dẫn chứng ở đoạn thơ “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi…Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”., chỉ phân tích những câu thơ tiêu biểu về vẻ dữ dội, khắc nghiệt của thiên nhiên. ->> Cần trích dẫn chính xác. Nhớ nguyên văn thì đặt trong ngoặc kép, nhớ đại ý thì chuyển thành lời gián tiếp Ví dụ minh hoạ Để chứng minh cho luận điểm ” TNú là một con người gan góc, táo bạo, dũng cảm, trung thành tuyệt đối với cách mạng” Ta có các luận cứ sau Ngay từ nhỏ,TNú đã cùng Mai làm liên lạc cho cán bộ ở trong rừng mà không sợ bị chặt đầu hoặc treo cổ. Khi đi liên lạc,giặc vây các ngả đường thì TNú đã “xé rừng mà đi”.Qua sông, TNú “không thích lội chỗ nước êm” mà “cứ lựa chỗ thác mạnh mà bơi ngang, vượt lên trên mặt nước, cỡi lên thác băng băng như một con cá kình”, “vì chỗ nước êm thằng Mĩ hay phục” Học chữ thua Mai thì lấy đá đập vào đầu .Điều ấy thể hiện ý thức của lòng tự trọng và ý chí quyết tâm cao. Bị giặc bắt thì nuốt luôn cái thư vào bụng, bị tra tấn không khai; một mình xông ra giữa vòng vây của kẻ thù trong tay không có vũ khí; bị giặc bắt, bị đốt mười đầu ngón tay vẫn không kêu than.. Như vậy, để lấy được những luận cứ hay, có sức thuyết phục, các em cần nắm vững nội dung và nghệ thuật của tác phẩm ấy. Từ việc không thuộc , hoặc nhớ mang máng, dẫn đến tình trạng viết lan man là không thể tránh khỏi. Mẹo Ba bước trên đây chúng ta chỉ thực hiện trong 5-10 phút, sau đó dành thời gian viết bài. Gạch ý ra giấy nháp theo từng ý lớn ý nhỏ, khi làm bài, thi thoảng nhìn giấy nháp để viết, sẽ tránh được tình trạng bỏ sót ý , hoặc ý trùng lặp. Đang viết mà bất chợt nghĩ ra một ý tưởng hay, một câu thơ, câu nói liên quan, các em ghi nhanh ra giấy nháp để làm dẫn chứng cho bài văn. Xem thêm Tổng hợp những đề thi về các tác phẩm trọng tâm lớp 12 Những bài văn nghị luận xã hội hay lớp 12 Đề 1Công việc học tập đòi hỏi một người phải có lòng quyết tâm, kiên trì, có chí sẵn sàng bỏ cả cuộc đời mình để tìm hiểu nó, đi theo nó. Công việc học tập đó tuy khó khăn nhưng nó cần thiết trong cuộc sống và góp phần nâng cao năng lực của chúng ta. Học tập có vai trò rất quan trọng đối với mỗi người. Và bởi vậy, việc học tập đòi hỏi sự chăm chỉ và nỗ lực. Thật đúng như người cần phải có tri thức. Để có tri thức thì chúng ta phải học tập. Đác uyn đã nói "Bác học không có nghĩa là ngừng học". Tuy đã thành một nhà bác học tài giỏi, nổi tiếng nhưng ông vẫn học tập, tìm tòi mặc cho con cái nói gì, khuyên gì. Đúng thế, việc học rất cần thiết, các bạn hãy cố gắng học tập, rèn luyện. Học tập không lúc nào là muộn cả, hãy quay đầu lại, đối diện với sự khó khăn trong việc học tập. Dù thất bại nhiều nhưng đừng nản chí vì "thất bại là mẹ của thành công". Việc học tập vất vả và khó khăn, nếu muốn học tốt thì không những chịu khó mà còn cần có lòng quyết tâm, kiên trì cố gắng vươn lên. Trong cuộc sống đã có rất nhiều tấm gương sáng như thầy giáo Nguyễn Ngọc Ký từ một người tàn tật liệt cả hai tay nhưng nhờ lòng quyết tâm chịu khó thầy đã vượt qua và trở thành một thầy giáo giỏi. Thầy là một người thầy mà chúng em vô cùng kính trọng và khâm phục với đôi chân ngày đêm viết ra những bài học hay và bổ ích. Hay là anh Hoa Xuân Tứ do một lần sơ ý anh đã đưa cả hai tay mình vào trục quay mía làm đường nên đã mất cả hai tay. Tuy vậy anh vẫn cố gắng học tập và anh đã học hết phổ thông. Đấy là những tấm gương sáng vượt khó. Họ đã cho ta thấy họ tàn nhưng không phế. Họ vẫn là người có ích cho đất học tập từ khi còn trẻ, nếu không học tập thì lớn lên sẽ không làm được việc gì. Đúng đây, khi còn trẻ, đầu óc còn thông minh, còn sáng rõ, còn đang phát triển có thể tiếp thu được nhiều kiến thức còn khi đã lớn, sự tiếp thu khó khăn hơn, lúc ấy mới gắng học thì đã muộn. Đã có nhiều người nhờ có trí thông minh và vốn kiến thức phong phú đã phát minh ra các loại máy móc, giúp mọi lĩnh vực khoa học công nghệ trở nên tiên tiến hơn. Lê nin từng nói "Học... học nữa.. học mãi". Đó là điều thật chí lý. Sống ở trên đời thì ai cũng cần có kiến thức, cần phải học tập. Từ già đến trẻ, từ xưa đến nay, học tập vận cần được tiếp tục và phát triển nâng cao lên. Bởi không hiểu biết sẽ dẫn đến chuyện sự ngu dốt điều khiển mình đi theo con đường mòn; làm cho mình không tiếp cận được khoa học công nghệ tiên tiến, không hoà hợp mình với mọi người; làm mình trở thành các người vô dụng, tự đào thải mình ra khỏi xã hội. Hiện nay, nhất ở các thành phố có hiện tượng không ít thanh niên bỏ nhà đi bụi, đua đòi, cướp giật, lập băng nhóm, nghiện hút. Không chịu học tập, ném mình vào những cuộc chơi vô bổ, thậm chí phạm pháp, chính họ đã tự đóng cánh cửa tương lai của mình. Công việc học tập là rất quan trọng đối với đời sống, học tập chịu khó khi còn trẻ là rất cần vì đó là nền tảng vững chắc khi ta lớn lên, tin tưởng vào lực học của mình để luôn đi trên đường đời mà không sợ ngã. Một lần nữa, em mong các bạn hãy cố gắng học tập tốt để đưa đất nước đi lên, xóa bỏ cái đói nghèo, lạc hậu vẫn còn tồn tại trên đất nước ta. CÁCH TÌM HIỂU ĐỀ, TÌM Ý, CỦA KIỂU BÀI TẢ NGƯỜIA MỤC TIÊU CẦN HS Rèn luyện kĩ năng tìm hiểu đề, tìm ý của kiểu bài tả ngườiB TIẾN TÌNH CÁC HOẠT ĐỘNGHĐGV HĐHS NDB HOẠT ĐỘNG 1 Hướng dẫn HS tìm hiểu chép đề sau lên bảng“Hãy miêu tả hình ảnh mẹ em trong lúc em bị ốm”-Gv nêu vấn đề gợi ý-Đề yêu cầu phải làm gì? Có mấy yêu cầu?-Những từ ngữ nào làm nổi rõ yêu cầu ấy.?=> Chốt lại về hình thức và nội dung yêu cầu đề Hỏi Tìm hiểu đề là tìm hiểu gì của đề?=> Tìm hiểu yêu cầu của ĐỘNG 2 Hướng dẫn Hs tìm hiểu ý cho đề văn nêu vấn đề gợi mở-Theo em với đề văn trên ta phải viết như thế nào?-Lúc em khỏe mạnh, hình ảnh ngưo8ì mẹ như thế nào?-Lúc em bị ốm hình ảnh người mẹ ra sao? +Nét mặt +Đôi mắt +Dáng điệu +Giọng nói +Sự chăm sóc-Tất cả những vấn đề nêu trên có phải là những ý chính để viết bài không?-vậy tìm ý là tìm những gì?=> Tìm ý chính, ý phụ để chuẩn bị viết bài. Hs quan sát đề vănHS lắng nghe và trả lời câu hỏiHs lắng ngheHs lắng nghe và trả lời câu hỏiHS lắng ngh và ghi nhậnI. Cách tìm hiểu đề Tìm hiểu yêu cầu về nội dung và hình thức của Tìm ý cho đề vănDựa vào nội dung yêu cầu của đề để tìm ý chính, ý phụ Bạn đang xem tài liệu "Giáo án môn Ngữ văn 6 - Cách tìm hiểu đề, tìm ý, của kiểu bài tả người", để tải tài liệu gốc về máy bạn click vào nút DOWNLOAD ở trên Tuần 21 Tiết 42 CÁCH TÌM HIỂU ĐỀ, TÌM Ý, CỦA KIỂU BÀI TẢ NGƯỜI A MỤC TIÊU CẦN ĐẠT. Giúp HS Rèn luyện kĩ năng tìm hiểu đề, tìm ý của kiểu bài tả người B TIẾN TÌNH CÁC HOẠT ĐỘNG HĐGV HĐHS NDB HOẠT ĐỘNG 1 Hướng dẫn HS tìm hiểu đề. Gv chép đề sau lên bảng “Hãy miêu tả hình ảnh mẹ em trong lúc em bị ốm” -Gv nêu vấn đề gợi ý -Đề yêu cầu phải làm gì? Có mấy yêu cầu? -Những từ ngữ nào làm nổi rõ yêu cầu ấy.? => Chốt lại về hình thức và nội dung yêu cầu đề Hỏi Tìm hiểu đề là tìm hiểu gì của đề? => Tìm hiểu yêu cầu của đề. HOẠT ĐỘNG 2 Hướng dẫn Hs tìm hiểu ý cho đề văn trên. Gv nêu vấn đề gợi mở -Theo em với đề văn trên ta phải viết như thế nào? -Lúc em khỏe mạnh, hình ảnh ngưo8ì mẹ như thế nào? -Lúc em bị ốm hình ảnh người mẹ ra sao? +Nét mặt +Đôi mắt +Dáng điệu +Giọng nói +Sự chăm sóc -Tất cả những vấn đề nêu trên có phải là những ý chính để viết bài không? -vậy tìm ý là tìm những gì? => Tìm ý chính, ý phụ để chuẩn bị viết bài. Hs quan sát đề văn HS lắng nghe và trả lời câu hỏi Hs lắng nghe Hs lắng nghe và trả lời câu hỏi HS lắng ngh và ghi nhận I. Cách tìm hiểu đề Tìm hiểu yêu cầu về nội dung và hình thức của đề. II. Tìm ý cho đề văn Dựa vào nội dung yêu cầu của đề để tìm ý chính, ý phụ Dặn dò Về nhà tìm hiểu đề và tìm ý cho đề văn sau Tả lại hình ảnh một cù già đang ngồi câu cá bên bờ hồ. Tài liệu đính kèm Cách tìm ý cho bài văn nghị luận Mục Hướng dẫn cách tìm ý cho bài văn nghị luận, khắc phục lỗi viết lan man không trọng Bước 1 Đọc kĩ đề bài2 Bước 2 Tìm ý cho bài Bước 3 Tìm luận cứHướng dẫn cách tìm ý cho bài văn nghị luận, khắc phục lỗi viết lan man không trọng tâm. Nhiều bạn học sinh chưa biết cách xác định luận điểm tìm ý cho bài văn nghị luận, dẫn đến việc viết lan man, nhớ đâu viết đấy, bài viết không rõ luận điểm. Bởi vậy dù có viết dài, viết sâu mà luận điểm không rõ ràng thì bài văn cũng không thể đạt điểm cao. Bài học hôm nay Admin sẽ hướng dẫn các em tìm ý cho bài văn nghị luận, khắc phục lỗi viết lan man, xa dạng đề văn nghị luận đều có dàn ý riêng, muốn tìm ý cho bài văn nghị luận, trước hết các em cần nắm vững cấu trúc bài văn. Cô tạm chia ra các dạng đề sau + Nghị luận văn học Phân tích, cảm nhận về nhân vậtPhân tích tình huống truyệnPhân tích , cảm nhận về đoạn thơPhân tích, cảm nhận về đoạn trích văn xuôiNghị luận ý kiến bàn về văn họcDạng đề so sánh văn học so sánh hai đoạn thơ, hai đoạn văn, hai nhân vật, hai hình ảnh, chi tiết trong tác phẩm…+Nghị luận xã hội Nghị luận về tư tưởng đạo líNghị luận về hiện tượng đời sốngNghị luận về vấn đề đặt ra trong tác phẩm văn họcSau đây Admin sẽ hướng dẫn các em tìm ý Luận điểm, Luận cứ phù hợp, khắc phục lối viết văn lan man, xa đề. Ở phạm vi bài viết này, Admin hướng dẫn các em tìm ý cho bài Nghị luận văn học. Hôm sau cô sẽ viết bài hướng dẫn cách tìm ý cho bài Nghị luận xã hội. Bước 1 Đọc kĩ đề bàiĐây là khâu đặc biệt quan trọng, vì nếu các em không đọc kĩ đề, sẽ dẫn đến việc xác định sai kiểu bài, thậm chí không hiểu vấn đề, và rơi vào ” chém gió ” là điều không tránh khỏi. Vậy chúng ta khai thác đề bài như thế nào? Đọc kĩ và gạch chân những từ trọng tâm. Cần trả lời các câu hỏi sauĐây là dạng đề nàoĐề đặt ra vấn đề gì cần giải quyết Viết lại rõ ràng luận đề ra 2 dạng đề Đề nổi, các em dễ dàng nhận ra và gạch dưới luận đề trong đề bài. Đề chìm, các em cần nhớ lại bài học về tác phẩm ấy, dựa vào chủ đề của bài đó mà xác định luận dụ Nhiều bạn cứ cầm đề thi lên, nhìn thấy Mị, Vợ chồng A Phủ là cắm đầu cắm cổ viết, viết tràn lan không có luận điểm ,như vậy rất nguy hại . Các em cần gạch chân những từ khoá trọng tâm của đề bài để xác định hướng triển khai cho phù hợp! Những từ khoá này sẽ giúp các em xác định rõ phần thân bài sẽ phải viết những gì. Bước 2 Tìm ý cho bài ý như thế nào ? Các em dựa vào dàn ý chung của mỗi kiểu bài để tìm ý nhé. Muốn tìm đúng luận điểm, các em cần nắm vững các bước làm bài, đồng thời phải nắm được nội dung, nghệ thuật của tác dụ Nghị luận ý kiến bàn về tác phẩm có dàn ý sơ lược như sau Mở bài dẫn dắt ý kiếnThường giới thiệu tác giả, tác phẩm và đi vào ý dựa vào nội dung của ý kiến để dẫn dắt và trích dẫn ý kiếnThân bài+ Giải thích, làm rõ vấn đềGiải thích, cắt nghĩa các từ, cụm từ có nghĩa khái quát hoặc hàm ẩn trong ý kiến . Sau khi cắt nghĩa các từ ngữ cần thiết cần phải giải thích, làm rõ nội dung của cả ý kiến. Thường trả lời các câu hỏi Ý kiến trên đề cập đến vấn đề gì? Câu nói ấy có ý nghĩa như thế nào?+ Bàn bạc, khẳng định vấn đề. Có thể lập luận theo cách sau– Khẳng định ý kiến đó đúng hay sai? cụ thể?– Lí giải tại sao lại nhận xét như thế? Căn cứ vào đâu để có thể khẳng định được như vậy?– Điều đó được thể hiện cụ thể như thế nào trong tác phẩm, trong văn học và trong cuộc sống?phân tích và lấy dẫn chứng trong tác phẩm văn học.+Mở rộng, nâng cao, đánh giá ý nghĩa của vấn đề đó với cuộc sống, với văn học.• Kết bài+ Khẳng định lại tính chất đúng đắn của vấn đề.+Rút ra những bài học cho bản thân từ vấn dàn ý trên, các em có thể hình dung mình cần viết những luận điểm nào cho bài văn. Ví dụ 2 Kiểu bài phân tích,so sánh, cảm nhận về hai nhân vật ta lại có dàn ý khácMỞ BÀI– Dẫn dắt mở bài trực tiếp không cần bước này– Giới thiệu khái quát về tác giả tác phẩm và nhân vật thứ nhất.– Giới thiệu khái quát về tác giả tác phẩm và nhân vật thứ thiệu vấn đề nghị luậnTHÂN BÀI1. Phân tích nhân vật thứ tích nhân vật thứ haiChú ý bám sát vấn đề nghị luận3. So sánh nét tương đồng và khác biệt giữa hai nhân vật4. Lý giải sự khác biệtKẾT BÀI– Khái quát những nét giống nhau và khác nhau tiêu biểu– Có thể nêu những cảm nghĩ của bản dàn ý trên, các em có thể tìm được luận điểm cho bài văn của mình, tránh sa đà vào phân tích văn xuôi như kể chuyện và phân tích thơ như diễn dụ 3 Kiểu bài cảm nhận về đoạn thơ, đoạn trích văn xuôiMở bài– Giới thiệu tác giả, giới thiệu bài thơ, đoạn thơ, đoạn văn hoàn cảnh sáng tác, vị trí,…– Dẫn bài thơ, đoạn thơ.* Thân bài– Làm rõ nội dung tư tưởng, nghệ thuật của đoạn thơ, bài thơ , đoạn văn– Bình luận về giá trị đoạn thơ, đoạn văn,…* Kết bàiĐánh giá vai trò và ý nghĩa đoạn thơ, bài thơ, đoạn trích văn xuôi trong việc thể hiện nội dung tư tưởng và phong cách nghệ thuật của nhà nhiều kiểu bài NLVH nữa, cô chỉ lấy 3 ví dụ tiêu biểu như trên. Bước 3 Tìm luận cứSau khi tìm được các luận điểm cho bài văn, chúng ta tiến hành tìm luận cứ. Khi xây dựng lập luận, điều quan trọng nhất là phải tìm cho được các luận cứ có sức thuyết phục cứ hiểu nôm na là những ý nhỏ, triển khai cho luận điểm. Luận cứ có thể là dẫn chứng, lí lẽ làm sáng tỏ cho luận điểm. Vậy tìm luận cứ như thế nào ? Cô hướng dẫn các em như sau + Trước hết, luận cứ phải phù hợp với yêu cầu khẳng định của luận điểm. Nội dung của luận cứ phải thống nhất với nội dung của luận điểm. Chẳng hạn muốn bình bài thơ hay, cần chọn được bài thơ hay, câu thơ hay.+ Thứ hai, luận cứ phải xác thực, tức là nó phải đúng đắn. Khi nêu luận cứ, người viết cần biết chính xác về nguồn gốc, các số liệu, các sự kiện, tiểu sử nhân vật,… Biết không chắc chắn thì chưa vội sử dụng. Tuyệt đối không được bịa đặt luận cứ. Nhiều bạn không thuộc thơ, không nhớ dẫn chứng văn xuôi, dẫn đến tình trạng “Chém gió”, “đoán mò “+ Thứ ba, luận cứ phải tiêu biểu. Nếu nhà thơ có nhiều câu thơ hay thì chọn câu thơ tiêu biểu cho phong cách độc đáo của nhà thơ ấy. Nếu chọn chi tiết về nhân vật thì chọn chi tiết tiêu biểu nhất cho tính cách của nhân vật ấy. Ví dụ phân tích nhân vật T Nú không thể bỏ qua hình ảnh đôi bàn tay bị đốt.+Thứ tư, luận cứ phải vừa đủ, đáp ứng yêu cầu chứng minh toàn diện cho luận điểm Ví dụ trong bài Tây Tiến- Quang Dũng nếu các em muốn chứng minh thiên nhiên miền Tây dữ dội, khắc nghiệt thì cần lấy những dẫn chứng ở đoạn thơ “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi…Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”., chỉ phân tích những câu thơ tiêu biểu về vẻ dữ dội, khắc nghiệt của thiên Cần trích dẫn chính xác. Nhớ nguyên văn thì đặt trong ngoặc kép, nhớ đại ý thì chuyển thành lời gián tiếpVí dụ minh hoạ Để chứng minh cho luận điểm ” TNú là một con người gan góc, táo bạo, dũng cảm, trung thành tuyệt đối với cách mạng” Ta có các luận cứ sau Ngay từ nhỏ,TNú đã cùng Mai làm liên lạc cho cán bộ ở trong rừng mà không sợ bị chặt đầu hoặc treo cổ. Khi đi liên lạc,giặc vây các ngả đường thì TNú đã “xé rừng mà đi”.Qua sông, TNú “không thích lội chỗ nước êm” mà “cứ lựa chỗ thác mạnh mà bơi ngang, vượt lên trên mặt nước, cỡi lên thác băng băng như một con cá kình”, “vì chỗ nước êm thằng Mĩ hay phục”Học chữ thua Mai thì lấy đá đập vào đầu .Điều ấy thể hiện ý thức của lòng tự trọng và ý chí quyết tâm giặc bắt thì nuốt luôn cái thư vào bụng, bị tra tấn không khai; một mình xông ra giữa vòng vây của kẻ thù trong tay không có vũ khí; bị giặc bắt, bị đốt mười đầu ngón tay vẫn không kêu than..Như vậy, để lấy được những luận cứ hay, có sức thuyết phục, các em cần nắm vững nội dung và nghệ thuật của tác phẩm ấy. Từ việc không thuộc , hoặc nhớ mang máng, dẫn đến tình trạng viết lan man là không thể tránh Ba bước trên đây chúng ta chỉ thực hiện trong 5-10 phút, sau đó dành thời gian viết bài. Gạch ý ra giấy nháp theo từng ý lớn ý nhỏ, khi làm bài, thi thoảng nhìn giấy nháp để viết, sẽ tránh được tình trạng bỏ sót ý , hoặc ý trùng lặp. Đang viết mà bất chợt nghĩ ra một ý tưởng hay, một câu thơ, câu nói liên quan, các em ghi nhanh ra giấy nháp để làm dẫn chứng cho bài thêm Tổng hợp những đề thi về các tác phẩm trọng tâm lớp 12Những bài văn nghị luận xã hội hay lớp 12 Bài viết gợi ý TÌM HIỂU ĐỀ VÀ CÁCH LÀM BÀI VĂN TỰ SỰ​ I. KIẾN THỨC CƠ BẢN 1. Đặc điểm của đề văn tự sự - Đề văn tự sự là yêu cầu về chủ đề để trên cơ sở đó định hướng cho người viết. - Có thể có nhiều cách diễn đạt về yêu cầu tự sự, nói cách khác, khái niệm tự sự trong đề văn có thể được diễn đạt dưới nhiều hình thức khác nhau tường thuật, tường trình, kể chuyện,... Có khi đề văn tự sự chỉ nêu ra chủ đề mà không kèm theo yêu cầu về thao tác các yêu cầu về thao tác như Em hãy tường thuật..., Em hãy tường trình..., Em hãy kể lại.... - Đề văn tự sự có thể nghiêng về yêu cầu kể người, nghiêng về yêu cầu kể việc hay nghiêng về yêu cầu tường thuật sự việc. 2. Tìm hiểu đề văn tự sự Khi tìm hiểu đề văn tự sự phải tìm hiểu kĩ lời văn của đề để nắm vững yêu cầu của đề bài. Đọc các đề sau và thực hiện các yêu cầu 1 Kể một câu chuyện em thích bằng lời văn của em. 2 Kể chuyện về một người bạn tốt. 4 Ngày sinh nhật của em. a Đề 1 yêu cầu em những gì? Dựa vào đâu để biết đây là đề văn tự sự? b Các đề 3, 4, 5, 6 không có từ kể, có phải đề văn tự sự không? c Hãy xác định những từ ngữ trọng tâm trong mỗi đề trên và cho biết những từ ngữ ấy nói lên điều gì? d Trong các đề trên, đề nào nghiêng về kể người, đề nào nghiêng về kể việc, đề nào nghiêng về tường thuật? - Yêu cầu của đề 1 kể chuyện có thể về người hoặc sự việc, chữ kể trong đề văn cho biết định hướng tự sự, cụm từ bằng lời văn của em cho biết yêu cầu về diễn đạt. - Các đề 3, 4, 5, 6 mặc dù không có từ kể nhưng vẫn là yêu cầu tự sự. Các đề này được diễn đạt như những nhan đề cho trước của một bài văn. + 1 câu chuyện em thích - Đề 2, 6 nghiêng về kể người; đề 3, 5 nghiêng về kể sự việc; đề 4 nghiêng về tường thuật sự việc; đề 1 tuỳ thuộc vào việc lựa chọn kể lại câu chuyện nào. 3. Cách làm bài văn tự sự a Các bước tiến hành làm một bài văn tự sự - Tìm hiểu đề Đây là bước đầu tiên khi tiến hành làm một bài văn theo đề ra trước. Phải đọc kĩ và hiểu từng câu chữ của đề để nắm được yêu cầu cần thực hiện cũng như định hướng về nội dung tự sự. Không làm tốt bước này, bài văn sẽ lạc đề. - Lập ý Sau khi đã xác định yêu cầu của đề, người viết phải hình dung ra nội dung sẽ viết theo các yếu tố như nhân vật, sự việc, diễn biến, kết quả, ý nghĩa của câu chuyện. - Lập dàn ý Các sự việc phải được lựa chọn, sắp xếp trình tự để đảm bảo diễn đạt được diễn biến câu chuyện, thể hiện được ý nghĩa mà người viết hướng tới. - Viết thành bài Sau khi đã có dàn ý, người viết phải tiến hành viết thành một bài văn tự sự hoàn chỉnh theo kết cấu ba phần. "Kể một câu chuyện em thích bằng lời văn của em". Hãy tìm hiểu đề, tìm ý và lập dàn ý. Gợi ý Dù kể câu chuyện nào thì cũng phải tiến hành tuần tự các bước từ đọc, tìm hiểu đề, xác định yêu cầu trọng tâm, nhiệm vụ cần thực hiện; tiếp theo là tìm ý, em chọn kể chuyện nào, trong truyện có sự việc nào là then chốt, nhân vật nào là nhân vật chính, câu chuyện mà em sẽ kể bộc lộ chủ đề gì ?; cho đến khâu lập dàn ý, đây là khâu liên quan trực tiếp đến lời kể phải hình dung ra mạch diễn biến cụ thể của câu chuyện, mở đầu bằng cách nào, thời điểm xảy ra các sự việc, nhân vật xuất hiện ra sao, kết cục thế nào ?; đến bước diễn đạt lời kể bằng văn của mình. Ví dụ, em dự định kể lại truyện Thánh Gióng - Kể câu chuyện về anh hùng Gióng đánh giặc Ân nhằm ngợi ca tinh thần yêu nước, đánh giặc ngoại xâm của nhân dân ta ngay từ buổi đầu lịch sử. - Nhân vật chính Thánh Gióng; các nhân vật khác cha mẹ Gióng, sứ giả, dân làng - Mở bài bằng việc giới thiệu sự ra đời kì lạ của Gióng; kết thúc bằng sự việc vua nhớ công đánh giặc, phong cho là Phù Đổng Thiên Vương và lập đền thờ ngay ở quê nhà. + Gióng ăn khoẻ lớn nhanh như thổi + Gióng vươn vai thành tráng sĩ + Roi gãy, nhổ tre làm vũ khí + Thắng giặc, Thánh Gióng cởi bỏ áo giáp, cưỡi ngựa bay về trời - Xác định giọng kể giọng điệu chung là ngợi ca, thể hiện được màu sắc thần kì. II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG Lập dàn ý cho bài văn kể chuyện. Tuỳ theo câu chuyện định kể mà có sự lựa chọn, sắp xếp các ý khác nhau nhưng vẫn phải theo bố cục ba phần. Đọc lại phần hướng dẫn các bước từ tìm hiểu đề cho đến lập dàn ý. Có thể tham khảo dàn ý bài kể truyện Thánh Gióng.

tìm hiểu đề và tìm ý